Vượt qua cái bóng gen2

Thời gian vừa là liều thuốc xoa dịu vết thương, đồng thời là sự thử thách khắc nghiệt. Ngày hôm nay, khi thí sinh của những chương trình sống còn bước lên sân khấu, tự tin thể hiện ca khúc vang bóng một thời mà giám khảo đánh giá chính là người trình diễn ca khúc này tầm chục năm trước, không ít người cảm thấy phấn khích. Nhưng, phần khán giả còn lại ngậm ngùi nhận ra, thời gian chẳng bỏ qua ai.

Quay đi ngoảnh lại, đã một thập kỷ trôi qua từ ngày Gen 2 – thế hệ thứ hai của làn sóng Hallyu bước lên thời kỳ đỉnh cao của mình.

 

Tuy đã tồn tại từ lâu, nhưng phải tới những cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, khi dòng phim truyện – âm nhạc thần tượng Đài Loan dần thoái trào, Internet bắt đầu bùng nổ, truyền hình tương tác phát triển, các sản phẩm tinh thần cộp mác xứ sở kim chi mới có nhiều cơ hội tiếp cận các cô cậu học sinh, sinh viên cuối 8x, nửa đầu 9x.

Vào thời điểm đó, DBSK, Super Junior, BIGBANG, SNSD,… lần lượt cho ra mắt các bản hit đình đám nhất sự nghiệp như “Mirotic”, “Sorry Sorry”, “Lies”, “Gee”,… Sẽ không quá lời khi nói rằng ở bất cứ đâu, từ truyền hình đến radio, từ quảng cáo tới bìa báo dành cho tuổi teen, nơi nào cần thu hút sự chú ý của giới trẻ, nơi đó sẽ có hình ảnh của các idol Hàn Quốc.

Tuy đã tồn tại từ lâu, nhưng phải tới những cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, khi dòng phim truyện – âm nhạc thần tượng Đài Loan dần thoái trào, Internet bắt đầu bùng nổ, truyền hình tương tác phát triển, các sản phẩm tinh thần cộp mác xứ sở kim chi mới có nhiều cơ hội tiếp cận các cô cậu học sinh, sinh viên cuối 8x, nửa đầu 9x.

Vào thời điểm đó, DBSK, Super Junior, BIGBANG, SNSD,… lần lượt cho ra mắt các bản hit đình đám nhất sự nghiệp như “Mirotic”, “Sorry Sorry”, “Lies”, “Gee”,… Sẽ không quá lời khi nói rằng ở bất cứ đâu, từ truyền hình đến radio, từ quảng cáo tới bìa báo dành cho tuổi teen, nơi nào cần thu hút sự chú ý của giới trẻ, nơi đó sẽ có hình ảnh của các idol Hàn Quốc.

Không chỉ lên ngôi tại Việt Nam, Hallyu còn vươn xa tầm với, tác động tới nền giải trí các quốc gia trong cùng hệ văn hóa Á Đông khác. DBSK debut tại thị trường Nhật Bản, sở hữu fandom riêng hùng mạnh, Super Junior, BIGBANG, SNSD,… bắt đầu đi tour quanh châu Á, phát hành các album tiếng Nhật, tham gia các show tại Trung Quốc, Thái Lan và được đón nhận nồng nhiệt.

Hơn cả âm nhạc, Gen 2 mang theo tất cả những gì thuộc về văn hóa và bản sắc con người ra khỏi biên giới lãnh thổ nước nhà. Nhờ phim ảnh, chương trình truyền hình thực tế, MV ca nhạc của Idol, lượng khách du lịch đổ về Hàn Quốc để khám phá ẩm thực, cảnh quan tăng dần qua các năm, đặc biệt là ở những địa điểm nổi tiếng như đảo Jeju, chợ Dongdaemun, khu phố du lịch Myeong Dong… Còn nhớ cách đây một thập kỉ, các cô gái từng phát cuồng vì những chiếc quần legging bó sát sặc sỡ, mốt phối trang phục với nhiều lớp layer, còn các chàng trai học cách chải chuốt tóc tai theo hình mẫu của những boygroup nổi tiếng.

Cũng trong thời gian này, các nhóm nhạc tiêu biểu nhất thế hệ thứ hai tạo nên những kỷ lục mang tính cột mốc: DBSK từng được chứng nhận là nhóm nhạc nam có fandom đông nhất thế giới, trở thành nhóm nhạc nước ngoài đầu tiên giành ngôi quán quân 12 lần trên bảng xếp hạng Oricon, album “Mirotic” bán được 500.000 bản, album “Sorry Sorry” của Super Junior trụ vững ngôi vị đầu bảng KKBOX tại Đài Loan suốt 37 tuần và thành tích của “Bonamana” là 63 tuần, ca khúc “Gee” phá vỡ kỷ lục No.1 trên Music Bank bằng 9 tuần liên tiếp đứng nhất. Và nhắc tới BIGBANG, nhiều người cho rằng phải dùng từ “nghệ sĩ” mới có thể hình dung được nhóm nhạc đại diện cho thị trường hip hop lúc bấy giờ.

Loạt kỷ lục kể trên và những chiến tích còn chưa được nhắc tới của các idolgroup khác vừa là tấm huy chương tự hào đeo trên ngực fan KPOP, nhưng cũng là áp lực vô hình đè nặng lên vai các nhóm nhạc ‘sinh sau đẻ muộn’, đặc biệt là thế hệ Gen 3.

Với “chu kỳ” vào khoảng bảy năm cho một thế hệ, Gen 3 bắt đầu từ năm 2012 và kéo dài tới thời điểm hiện tại. Mở màn bằng cuộc đối đầu của bộ ba nhóm nhạc nam ngang tài ngang sức: EXO, B.A.P, NU’EST, Gen 3 trở thành chiến trường khốc liệt với số lượng chiến binh “siêu to khổng lồ”.

Chỉ tính riêng trong năm 2015, đã có 22 nhóm nhạc cả nam lẫn nữ debut và tạo được chỗ đứng khá vững chắc: SEVENTEEN trực thuộc Pledis Entertainment, Source Music cho ra mắt GFriend, DSP Entertainment sở hữu APRIL, MONSTA X của Starship Entertainment,…

Không đứng ngoài cuộc chơi này, Big 3 (SM, JYP, YG) cũng xuất quân bằng dàn “lính” hết sức thiện chiến: ngoài EXO, Red Velvet là nhóm nữ tiếp theo mà SM Entertainment giới thiệu trước công chúng, JYP chẳng hề kém cạnh khi tung ra TWICE và Day6 trong cùng một năm, còn YG mang tới hẳn ba nhóm nhạc: WINNER, iKON, BLACKPINK trong ba năm liên tiếp.

Và nhắc tới Gen 3, không thể nào bỏ qua được nhóm nhạc tới từ công ty nhỏ, nhưng đạt được những thành công ngoài sức tưởng tượng – BTS (BigHit Entertainment).

Có thể nói, thế hệ thứ ba của Kpop ra đời trong hoàn cảnh thiên thời – địa lợi – nhân hòa: tiếp nối con đường mà Gen 2 đã mở lối, khán giả yêu nhạc thế giới dần chú ý nhiều hơn tới Gen 3, âm nhạc US-UK và KPOP bắt đầu giao thoa, các thần tượng dần trẻ hóa, độ tuổi trung bình xếp vào hàng thiếu niên, môi trường fandom có sẵn quy củ và nếp gấp, sức mua đĩa cứng lớn hơn nhờ vào fan quốc tế, các ca khúc phát hành dưới dạng điện tử dễ tiếp cận hơn với công chúng,… Vì vậy, việc các công ty giải trí liên tục cho nhân tố mới ra mắt không phải là điều khó hiểu.

Những thứ mới mẻ thường khó thuyết phục công chúng, điều này gần như chưa bao giờ sai, nhất là với nơi “đất chật người đông” như KPOP.

Ngày EXO ra mắt, rất nhiều người cho rằng đây sẽ là “quả bom xịt đầu tiên” của SM Entertainment. Họ không tin vào sự thành công tới từ nhóm nhạc mặc quần áo lấp lánh, chọn hình tượng siêu năng lực, debut bằng ca khúc có lời ca trừu tượng, mang âm hưởng thính phòng. Hàng loạt tin đồn về thái độ xấu xí với tiền bối bủa vây, thứ hạng lẹt đẹt của “MAMA” là câu chuyện giễu cợt kinh điển với anti fan. Red Velvet cũng vậy, hết bị cho là nỗi thất bại lớn nhất của “nhà hường”, nhóm còn thường xuyên nhận chê bai vì trình diễn những ca khúc có giai điệu khác thường.

Thậm chí, đến khi đã thành danh và nổi tiếng khắp châu Á, TWICE hay BLACKPINK vẫn bị xem là bản sao của SNSD và 2NE1 bởi số lượng thành viên lẫn dòng nhạc đang theo đuổi. WINNER và iKON từng có khoảng thời gian dài “được” gọi là đàn em của BIGBANG thay cho tên nhóm. Nhắc tới BTS ngày mới đi hát, công chúng chỉ cười vào dòng chữ ‘Chống đạn thiếu niên đoàn’ chứ không ai buồn nhớ tới bài hát, hay các thành viên GFriend đã tủi thân biết bao bởi Knet quá hà khắc về nhan sắc của các thành viên.

Nhưng đúng là lửa thử vàng, gian nan thử sức, khắc nghiệt với các tân binh bao nhiêu, quả ngọt thu về lớn bấy nhiêu. Đã qua rồi những ngày EXO phải đi diễn ở festival, nhận những túi gạo 2kg làm công, đã qua rồi những ngày BTS tổ chức fansign nơi công viên với lượng người hâm mộ tính theo đơn vị chục. Nếu ví các idol group như rượu, thì tân binh chính là rượu mới nấu, càng để lâu càng đượm vị, càng qua thời gian, EXO, BTS hay tất cả những nhóm nhạc đã kể trên đều chứng tỏ được khả năng xuất chúng của mình.

Bằng âm nhạc chất lượng, MV được đầu tư kỹ lưỡng, những “Growl”, “Blood, Sweat and Tears”, “Cheer Up”, “Empty”, “Love Scenario”, “Ddu Du Ddu Du”,… trở thành những bản hit lớn của năm, không chỉ riêng giới trẻ Hàn Quốc thuộc nằm lòng. Ở Gen 2, DBSK từng tạo riêng cho mình một đế chế khi bán được 500.000 đĩa, nhưng với Gen 3, EXO và BTS thường xuyên lập kỷ lục bán đĩa triệu bản, năm sau cao hơn năm trước. Cùng với đó, lượng view của MV KPOP hoàn toàn có thể sánh vai với sản phẩm tới từ US-UK, đạt ngưỡng trăm triệu lượt xem trên Youtube không còn là điều gì đó quá xa vời, “chỉ có trong mơ”.

Người ta thường nói, Tokyo Dome là thánh đường khẳng định sự nổi tiếng tại Nhật Bản, thì Olympic Gymnastics Arena là thước đo độ thành công tại Hàn Quốc. Ở thế hệ thứ hai, có tổng cộng 11 nhóm nhạc từng thực hiện tại nhà thi đấu khổng lồ này, còn với thế hệ thứ ba là 12 nhóm nhạc và chưa có dấu hiệu dừng lại, đủ để thấy được những thành công to lớn của những “đứa trẻ” từng bị ghét bỏ.

Nếu đặt Gen 2 và Gen 3 lên cùng một bàn cân, dễ thấy nhiều điểm khác biệt trong cách thức hoạt động của các nhóm nhạc thuộc hai thời kỳ.

Bởi thị trường âm nhạc ngày một đông và lớn dần, idolgroup của làn sóng Hallyu thứ ba có lịch comeback dày đặc, thường xuyên xuất hiện trên truyền thông. Nếu như trước đây, khán giả phải chờ từ một đến hai năm mới được thưởng thức một album thì nay, khoảng thời gian này được rút ngắn đi nhiều.

Vào giai đoạn hoàng kim nhất, EXO từng tung ra một album phòng thu, một repackage album, một album mùa đông chỉ trong vỏn vẹn mười hai tháng. Năm 2018, TWICE khiến người hâm mộ “choáng ngợp” khi cho ra hai EP, một album phòng thu mới, hai album tái phát hành bằng tiếng Hàn và hai đĩa đơn tiếng Nhật, chưa kể hai tour lưu diễn và một tour showcase. Nhờ đó, cả hai nhóm đều đạt được độ phủ sóng rộng rãi lớn, đặc biệt là chiến thắng hạng mục Daesang của các giải thưởng lớn lúc tuổi nghề còn rất trẻ.

Bên cạnh đó, không thể nào phủ nhận rằng công nghệ đã góp phần lớn vào thành công chung của các nhóm nhạc đương thời. Đơn cử, tầm 10 năm trước, muốn nói chuyện với idol thì phải tới fansign, nhưng bây giờ, fan chỉ cần lên mạng là có thể gặp được thần tượng.

Để giao lưu với fan một cách dễ dàng, hầu hết các nhóm nhạc Gen 3 đều lập một tài khoản SNS chung và mỗi thành viên sở hữu một tài khoản SNS riêng. Bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, fan và thần tượng cũng có thể trò chuyện, chia sẻ cuộc sống bên ngoài sân khấu cùng nhau. Ngoài ra, YouTube còn là mảnh đất màu mỡ để idol tự phát triển bản thân và thể hiện các tài lẻ như make up, chơi nhạc cụ, quay vlog,… Chính điều này đã khai thác được khía cạnh mới mẻ của idol, tạo nên sức hút khác biệt, hấp dẫn thêm người hâm mộ và làm tăng độ nổi tiếng.

Khác với Gen 2, idolgroup Gen 3 đang biến thành các nhóm nhạc đa quốc tịch với lượng thành viên đông đảo tới từ các quốc gia khác nhau như Nhật Bản, Thái Lan, Mỹ, Canada, Đức,… chứ không chỉ gói gọn ở Trung Quốc. Đây là một trong những nhân tố giúp các nhóm thuộc thế hệ thứ ba mở rộng thị trường, chiều lòng fan quốc tế.

Đặc biệt, sau lệnh hạn chế Hallyu từ phía Trung Quốc, thị trường KPOP dần chuyển hướng tấn công sang thị trường Đông Nam Á, bằng chứng là gần như thần tượng nào cũng có tour diễn đi qua Thái Lan, Singapore, Indonesia,… Tại Việt Nam, hiện giờ các bạn trẻ thường xuyên được gặp thần tượng nhờ các đại nhạc hội, lễ trao giải hay chương trình do nhãn hàng tài trợ, cơn khát idol như thời Gen 2 thứ hai đã bớt đi phần nào.

Sau giấc mộng không thành của hàng loạt tên tuổi hàng đầu như Se7en, BoA, Wonder Girls, CL,… tưởng chừng như giấc mơ Mỹ của KPOP đã tắt lịm, nhưng bằng ngòi nổ ấn tượng mang tên BTS, một lần nữa thị trường Âu – Mỹ lại được đưa vào tầm ngắm. NCT 127 phát hành ca khúc “Regular” phiên bản tiếng Anh, kết hợp cùng Ava Max, thường xuyên tham gia các show nổi tiếng như “Good morning America” hay “Mickey’s 90th spectacular”, BLACKPINK ký hợp đồng với Interscope Records, hòa giọng cùng Dua Lipa và biểu diễn trong “The Late Show with Stephen Colbert”.

Bằng việc nâng cao độ nhận diện với công chúng của thị trường khó tính này, album “Regular – Irregular” của NCT 127 đứng thứ 86 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 200, còn “đứa con” “Square Up” tới từ BLACKPINK xếp hẳn ở vị trí 40, đồng thời, single “Ddu Du Ddu Du” cũng leo lên hạng 55 của Billboard Hot 100 – thành tích cao nhất của nhóm nhạc nữ KPOP tại Mỹ. Với BTS, nhóm có ba lần đạt No.1 Billboard Hot 200 – nhóm nhạc Hàn Quốc đầu tiên lập nên kỷ lục đáng ngưỡng mộ này.

Tới Gen 3, các nhà sản xuất âm nhạc đã và đang đi trên con đường làm mới gu của công chúng – trao cho idol những ca khúc kết hợp nhiều thể loại, phong cách đa dạng, thay vì chỉ đơn thuần là Pop hay Hip hop, RnB dễ nghe, dễ thuộc, hợp với thị hiếu số đông và dễ tạo trend bằng đoạn hook giữa bài.

Đi đầu trong số những nhóm nhạc nam có gu vừa “lạ” vừa “quái” là NCT 127. Các chàng trai nhà SM không ngần ngại thử sức trước dòng nhạc Latin bằng “Regular”, Rap, Hip hop và Electronic với phần beat được làm dày bằng âm thanh kim loại trong “Simon Says”, “Chain”. Còn BLACKPINK, nhóm vẫn đang là chủ nhân ca khúc Hiphop “không giống ai”, điển hình như “Kill This Love” có bố cục bài phá vỡ mọi quy tắc nhưng lại nhận được rất nhiều lời tán dương từ cả người nghe lẫn giới chuyên môn. Có thể thấy, KPOP đang dần mở rộng thị trường, hướng tới nhiều đối tượng fan khác nhau chứ không nhắm đến riêng người trẻ châu Á.

Bắt đầu từ Gen 2, các nhóm nhạc thường có “mốt” ghi hình quá trình tập luyện trước lúc debut thành một bộ phim tài liệu, thì đặc sản của Gen 3 chính là sự xuất hiện của những cái tên xuất thân từ các cuộc thi sống còn như I.O.I, Wanna One, IZ*ONE….

Tuy được xem là sản phẩm “muối xổi”, ít bền, mang tính thời điểm, nhưng nhờ những chương trình như thế này mà âm nhạc Hàn Quốc vốn đang quá tải có thêm một lần chắt lọc, hàng loạt nhân tài tưởng như sắp “chết yểu” được chú ý, tạo nên một hiện tượng mới, mang đến làn sóng hâm mộ vô cùng mạnh mẽ bởi thời gian tồn tại của nhóm là có hạn.

Mười năm đi qua, có những idol Gen 2 đã giã từ sân khấu, cũng có người sau mười sáu năm mới được debut solo như Yunho (DBSK). Tất cả họ, dù còn cầm mic hay đã chuyển nghề, dù đang hoạt động trong giới giải trí hay đã từ bỏ ánh hào quang, nhưng những thành công mà thế hệ này đã đạt được vẫn còn đó, đây chính là tiền đề vững chắc giúp KPOP tiến xa.

Tuy nhiên, đấu tranh sinh ra để phát triển, kỷ lục sinh ra để phá vỡ. Với những kỹ năng được rèn luyện bén nhọn, tinh thần cầu tiến, nỗ lực bền bỉ, kiên định, các thần tượng của thế hệ thứ ba không chỉ dần vượt qua được cái bóng lớn tiền bối để lại, mà còn thử thách giới hạn của chính bản thân mình, mang những thành công đã đạt được ra làm cầu nối giúp âm nhạc nói riêng và văn hóa Hàn Quốc nói chung ngày càng lan tỏa mạnh mẽ.