Chào mừng bạn ghé thăm tinnhac.com từ google. Tinnhac.comtrang thông tin âm nhạc hàng đầu Việt Nam. Trải nghiệm tinnhac.com ngày hôm nay để không bỏ lỡ những tin tức âm nhạc chuyên sâu và hấp dẫn nhất!

Điểm danh những nghệ sĩ chật vật bỗng "chuyển mình" vụt sáng thành siêu sao sau khi theo đuổi dòng nhạc khác

Khi nói về việc làm nhạc, người nghệ sĩ không chỉ ngốn hàng chục nghìn giờ luyện tập để có thể hát hay hoặc chơi thành thạo một loại nhạc cụ, mà còn phải tìm tòi cho đến khi tìm được thể loại nhạc phù hợp. Có rất nhiều sao lớn chật vật hàng năm mới khám phá ra thứ âm thanh dành cho họ để đạt được vị thế như hiện tại.

Daft Punk

Ban nhạc electronic Daft Punk đã quá nổi tiếng với những chiếc “mũ bảo hiểm” thương hiệu và những giai điệu khiến người nghe không ngừng nhún nhảy. Những bài hát như “Around the World” hay “Get Lucky” đã đem đến cho họ thành tích hàng triệu đĩa đơn được tẩu tán và dành về 6 giải Grammy danh giá. Nhưng ngược dòng thời gian về Pháp những năm đầu thập niên 90, họ lại là 2 cậu trai muốn thử tay với nhạc rock.

Theo cuốn tự truyện A Trip Inside the Pyramid của nhóm, Thomas Bangalter và Guy-Manuel de Homem-Christo đã gặp gỡ tại trường và quyết định lập nên một band nhạc dù đang trong tuổi vị thành niên. Cùng với thành viên thứ 3, họ đặt tên cho rock band của họ là Darlin’ (theo tên của một bài hát của the Beach Boys).

Không có hợp đồng và nhạc cụ đắt tiền, Darlin’ buộc phải thu âm các bài hát của họ tại nhà. Họ thu được một băng nhạc hoàn chỉnh với vài track nhỏ, bao gồm bài hát cùng tên “Darlin’” và ca khúc “Cindy So Loud”. Họ cũng đã xuất hiện cùng các nhóm rock khác trong một đĩa đơn tổng hợp - tuy được ra mắt bởi một hãng đĩa nổi tiếng, song không nhận được thành công thương mại.

Dẫu giới phê bình không mấy ưa thích, song đó chính là bước ngoặt lớn cho các anh chàng. Một tờ báo phê bình tại Anh đã viết về các sản phẩm của họ, và gọi họ với cái tên không mấy mĩ miều “a daft punky thrash”. Họ đã lấy luôn cái tên ấy và nuôi lớn tình yêu với nhạc electronic để tiến bước đến đẳng cấp của Daft Punk ngày nay.

Smash Mouth

Ngày nay Smash Mouth nổi tiếng hơn cả về những trận chiến không hồi kết trên Twitter với đủ loại người: từ Oakland A cho đến bất cứ ai dèm pha về sự thành công của họ. Nhưng sự nghiệp âm nhạc của họ mới là điều đáng nói, với thứ âm thanh mà ca sĩ hát chính Steve Harwell gọi là “California in a can. Fun in the sun. West Coast party pop”. Những hits đình đám của họ bao gồm “Walkin’ On the Sun” hay “All Star” đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của fans âm nhạc. Nhưng chặng đường đến với thành công của họ lại hết sức chông gai.

Steve Harwell bắt đầu với dòng nhạc hoàn toàn khác biệt, xuất hiện trong nhóm rap Freedom Of Speech (F.O.S). Anh và thành viên cùng nhóm Stereogum rất hâm mộ rapper Chuck D và cả hai đã quyết định bén duyên với nghiệp rap. Họ cùng nhau thu âm ca khúc “Big Black Boots” và nhận được airplay từ một số radio trong khu vực F.O.S. tiếp tục thuận lợi ký hợp đồng với hãng đĩa nọ, và rục rịch chuẩn bị ra mắt một đĩa đơn. Không may thay, theo lời của Harwell, Snoop Dogg ra mắt và thay đổi toàn bộ cục diện cuộc chơi. Và trong một lần xem MC Hammer biểu diễn ở Las Vegas, Harwell nói với người quản lý rằng: “Tôi quá mệt mỏi với thứ hip-hop này rồi!”

Bản thân Smash Mouth ra mắt với danh nghĩa một band nhạc ska, với album ra mắt ngập tràn giai điệu ska/punk kết hợp. Nhưng tình cờ với “Walkin’ On the Sun”, họ mới nhận ra thứ âm nhạc thực sự dành cho mình.

The Go-Go's

Nhóm nhạc new wave The Go-Go từng là biểu tượng của một thời 80s, với những bộ outfits rực rỡ và mái tóc to bự - họ giúp tái định nghĩa lại phong cách âm nhạc thuở mấy giờ. Album ra mắt Beauty and the Beat là một hiện tượng lớn - chễm chệ ngôi vị đầu bảng, giành được chứng nhận 3x bạch kim, và chứa những đĩa đơn kinh điển như “We Got the Beat” hay “Our Lips are Sealed.” Song những giai điệu vui tươi, poppy ấy lại khác một trời một vực với họ thuở bắt đầu.

Theo tờ Vice, The Go-Go’s từng khao khát trở thành một nhóm nhạc punk. Giọng ca chủ chốt Belinda Carlisle đã được truyền cảm hứng mạnh mẽ từ một album của Iggy Pop, và bắt đầu ăn mặc với phong cách đậm chất punk. Belinda gặp một cô gái khác cùng sở thích là Jane Wiedlin - đôi bạn quyết định muốn ăn chơi với các gã trai và trở thành những tay punk ngầu nhất vũ trụ. Song vấn đề chính đó là: không ai biết chơi nhạc cụ, và thậm chí Belinda… không biết hát. Trong show nhạc đầu tay, các cô gái biểu diễn 3 bài và khán giả ở dưới lại nghệt mặt ra, rồi bụm miệng cười. Thậm chí một gã nhà báo đã phát biểu rằng: “The Go-Go’s tra tấn người nghe như thể hạ độc một con cá ngừ.”. Nhưng họ chẳng quan tâm ngoài việc đã vui vẻ hết cỡ và thu hút được vài chàng rất khá.

Vào năm 1979, The Go-Go’s mời được một tay trống cừ khôi - người đã thúc ép họ tập luyện hàng ngày. Từ đó các cô gái đã dần dần tiến bộ và đạt được thành công xứng đáng với công sức của các nàng.

The Beastie Boys

The Beastie Boys là bộ ba chàng trai người Do Thái từng thống trị hip-hop và rap. Sự nghiệp của họ chứng kiến những bài hát kinh điển như “Sabotage”, “(You Gotta) Fight For Your Right (to Party)”, hay “No Sleep Till Brooklyn”. Nhóm tẩu tán được hơn 50 triệu đĩa đơn và là nghệ sĩ/nhóm nhạc rap thứ 3 được Rock and Roll Hall of Fame xướng tên. Và chẳng ai ngờ được họ từng là một ban nhạc hardcore punk thuở chập chững.

Họ đặt tên cho nhóm là The Young Aboriginals, theo lời của NME, ra mắt với danh nghĩa bộ tứ vào năm 1979 khi Mike D chỉ mới 15 tuổi. (Shatan - tay bass của nhóm lại thường không tham gia các buổi rehearsal vì vướng mắc việc học). Họ hướng tới chất punk mạnh mẽ và chịu ảnh hưởng từ các bands như Black Flag, Misfits hay Dead Kennedys. Tay guitar John Berry tự miêu tả họ với những tính từ như “cà chớn” hay “thích gây gổ”, nhưng họ thực sự nghiêm túc theo đuổi âm nhạc và có cơ hội biểu diễn ở vài show nhạc nhỏ. Nhóm đã thu âm vài băng nhạc nhỏ và tặng bạn bè làm kỷ niệm.

Một trong những bài hát trong tape nhạc năm nào mang tên là “Asshole!” - khi các chàng trai cứ thế hét lên “asshole” và theo thứ tự từng thành viên chửi rủa lẫn nhau - khác một trời một vực với những siêu phẩm về mặt lyrics làm nên tên tuổi họ. Các anh chàng cuối cùng quyết định đổi tên nhóm thành the Beastie Boys, ra mắt một EP nhạc Punk - Polly Wog Stew trước khi chính thức chuyển hướng âm nhạc. Những nghệ sĩ như Sugarhill Gang hay Grandmaster Flash đã tích cực truyền cảm hứng cho họ. Họ bắt đầu cầm mic rap, và the Beastie Boys (theo những gì chúng ta biết) ra đời.

Michael Bolton


Danh ca Michael Bolton được đông đảo công chúng mến mộ qua những bản tình ca như “How Am I Supposed to Live Without You” hay “When a Man Loves a Woman”. Song giấc mơ âm nhạc thuở đầu của Michael lại khác hoàn toàn.

Trước khi bén duyên với những bản tình ca say đắm lòng người, Michael từng là thành viên của band nhạc Black Jack - được Rolling Stones miêu tả như một “hard-rocking hair band”. Những mái tóc của họ rất ấn tượng, song âm nhạc thì… không được như vậy. Band nhạc là dự án tiếp của một nhà sản xuất âm nhạc nọ - người có cơ hội làm việc với các band nhạc huyền thoại như Led Zeppelin hay Bad Company. Tay guitar, Bruce Kulick, lọt vào mắt xanh của ông sau khi xuất hiện ở tour diễn Bat Out of Hell với Meatloaf. Tưởng rằng giọng hát ấm áp của Michael không phải là lựa chọn tốt nhất cho một band nhạc rock, thì những producer làm việc với họ lại yêu cầu ở anh một thứ âm thanh được “gọt dũa” cho mềm mại hơn.

Không may thay, người nghe không mua đĩa của họ. Album đầu tay cũng không xuất hiện ở Top 100, và single debut “Without Your Love” cũng ngậm ngùi dừng chân ở vị trí thấp. Song video nhạc của họ vẫn ngập tràn niềm vui và fan chứng kiến một Michael thật ngầu dưới danh nghĩa là một rocker. Album thứ hai của nhóm cũng không khá khẩm hơn, và các anh chàng đành tan rã.

Nhưng có vẻ đó không phải là cái kết cho giấc-mơ-rock của anh chàng Michael. Trong ký sự của Tony Iommi, ông có kể rằng Michael Bolton từng tham gia thử giọng để làm lead singer của Black Sabbath. Song Michael đã thẳng thừng phủ nhận, vì kể từ đó ông chuyển thẳng định hướng sang dòng nhạc ballad và không hề nuối tiếc bất kì điều gì.

Journey

Journey là một trong những nhóm nhạc ballad vĩ đại nhất lịch sử âm nhạc. Đến đây chắc hẳn bạn đang nhẩm trong đầu ca từ của “Don’t Stop Believin’”, hoặc liên tưởng đến loạt hits bự khác như “Open Arms” hay “Faithfully”. Sự nghiệp của họ trải dài khắp 8 album bạch kim và 2 album kim cương, với tổng cộng 75 đĩa nhạc được gửi đến tay người hâm mộ. Song những âm thanh pop-rock thuở 1980s lại không phải điểm khởi đầu của họ.

Họ bắt đầu sự nghiệp cầm mic với thể loại jazz-fusion khác lạ và được báo giới ví von so sánh với Santana. Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi 2 trong số họ từng chơi cho band nhạc nọ. Theo cuốn Don't Stop Believin': The Untold Story Of Journey, tay keyboard Gregg Rolie cho rằng việc so sánh trên đặt nặng lên nhóm những áp lực, và anh ghét cảm giác fans đến concert của mình mà lại muốn nghe tiếng trống conga đặc trưng của Santana.

Nhóm ra mắt 3 album nhưng không thể làm nóng các bảng xếp hạng. Tay guitar Neal Schon chia sẻ với tờ AZ Central rằng việc thay đổi phong cách làm nhạc không hẳn là chủ đích của họ, mà thay vào đó chủ hãng đĩa đã gửi tối hậu thư yêu cầu họ viết những bản nhạc radio-friendly. Cùng với đó, band cũng thay đổi giọng ca chủ chốt - khi người quản lý đã chiêu mộ được Steve Perry qua một tape nhạc của anh - quả là những quyết định làm nên lịch sử.

Katy Perry

Katy Perry đặt chân vào hàng ngũ siêu sao vào năm 2008 với hit khủng “I Kissed a Girl” - và we liked it. Trong MV, nàng ca sĩ đã âu yếm với các cô gái nóng bỏng, hát về niềm vui sướng của mình khi trốn bạn trai ra ngoài thử cảm giác lạ. Hay trong một single kinh điển khác “California Gurls”, fan hâm mộ chứng kiến Katy hở bạo và bắn kem từ… chiếc bra thần thánh. Quả là một hướng đi khác biệt hoàn toàn so với lúc nàng main pop girl bắt đầu ca hát - khi cô còn là một nàng teen ngây thơ, và ra mắt một album Christian.

Đó là một điều dễ hiểu khi ta xét tới quá trình trưởng thành của cô. Katy là cô con gái diệu của không chỉ một mà hai nhà mục sư, theo lời của tạp chí Complex, và nàng ca sĩ hiện tại vẫn một mực tôn kính Chúa trời. Cô nàng từng mộc mạc với mái tóc nguyên thủy, ôm cây đàn guitar và biểu diễn dưới tên thật của mình - Katy Hudson.

Nàng Katy Hudson từng ra mắt một album cùng tên vào năm 2001 khi cô mới chỉ 16 tuổi. Album được nhào nặn rất mát tay và nhận được lời ngợi khen từ các nhà phê bình có tiếng như AllMusic, Christian Today hay thậm chí Billboard. Và có phóng viên phải thốt lên rằng: những bài hát của cô có “thứ âm thanh như kẹo ngọt”, tương phản với thông điệp truyền tải về Chúa lại hết sức có trọng lượng. Tất cả đều hứa hẹn sự ra mắt của một tên tuổi nổi tiếng.

Katy quảng bá album bằng việc đi tour với những band nhạc Christian đình đám. Nàng rất tài năng, và xứng đáng có được sự tỏa sáng. Buồn bã thay, album chỉ bán đi được vỏn vẹn… 200 bản, nên đừng ai trách Katy vì sao cô quyết định chuyển hướng để nhắm đến một thứ “mainstream” hơn: chính là tiền.

Sugar Ray

Nhớ lại những năm thuở 90s, bạn không thể dứt ra khỏi Sugar Ray. Đó là khi họ chiếm lĩnh các pop radio với loạt hits như “Every Morning” hay “Someday”. Album 14:59 của họ đạt chứng nhận 3x bạch kim, và thế hệ 9x chắc hẳn vẫn giữ nó trong hộc tủ như một ký ức khó quên. Chẳng ai có thể ngờ thành công thương mại của họ lại đến như một sự tình cờ - khi bắt đầu họ là một band metal.

Điều này hoàn toàn dễ hiểu nếu bạn biết được những cái tên ảnh hưởng mạnh mẽ đến họ sau đây. Trong một buổi phỏng vấn với Hip, lead guitarist Rodney Sheppard chia sẻ rằng họ mê mẩn những band nhạc như the Sex Pistols, Rage Against the Machine, Ted Nugent hay Korn. Có đợt họ được vinh dự mở màn cho the Sex Pistols, cũng như KISS. Một lần khác khi trò chuyện với tờ Noisecreep, lead singer Mark McGrath tự miêu tả bản thân như một “gã metalhead không nhượng bộ”.

Âm nhạc thuở bấy giờ của họ khá shock nếu bạn chưa quen với thể loại này. Trong bài hát “Mean Machine”, Mark thét lên bằng giọng ca khàn đặc trong khi các thành viên khác chơi nhạc đầy điên loạn. Video cho ca khúc cũng đem đến cho người xem hình ảnh một mosh pit cuồng nhiệt và mất-kiểm-soát.

Họ chắc vẫn không thể bật lên được nếu không có trận chiến nảy lửa này. Ngày nọ, buổi tổng duyệt diễn ra không mấy trơn tru, khiến cho McGrath nổi đóa. Tay bass tiếp tục giỡn chơi với nhạc cụ của anh khiến DJ nổi hứng thêm phần drum loop. Chỉ 5 phút sau đó ca khúc “Fly” được viết - và cũng là ca khúc pop duy nhất trong album metal-heavy Floored bị gán mác “Parental Advisory” của nhóm. Ca khúc nhanh chóng leo lên vị trí đầu bảng, thôi thúc Sugar Ray đào sâu khía cạnh khác của họ và trở nên thành công rực rỡ.

Parliament-Funkadelic

Parliament-Funkadelic (hay P-Funk) là một trong những band nhạc tiêu biểu cho thập niên 70s. Thứ âm thanh của họ không chỉ funky mà còn hết sức gây nghiện, với những minh chứng như “Give Up The Funk (Tear The Roof Off The Sucker)” hay “One Nation Under a Groove”. Được dẫn dắt bởi George Clinton, họ thành công với việc ghi được 13 hits top 10. Chẳng ai biết được thuở xưa cậu trai Clinton với mái tóc dreadlocks 7 màu lại bấn loạn vì doo-wop.

Theo tờ PBS, ông thành lập band nhạc đầu tay - the Parliaments, thuở giữa những năm 1950s. Họ là một nhóm thợ cắt tóc nam, tình cờ tụ họp với nhau khi Clinton muốn làm lại mái tóc của mình. Cuốn tự bạch cũng kể lại rằng chính ông là người quyết định chuyển từ New Jersey đến Detroit để bắt đầu sự nghiệp nhạc sĩ ở chốn Motown.

Họ có thu âm một vài ca khúc, như bản nhạc “(I Wanna) Testify” vào năm 1967 - dừng chân ở vị trí No.3 tại bảng xếp hạng Billboard R&B chart. Đó có thể là thành công duy nhất của họ, khi hãng đĩa đã phá sản và nhóm chẳng còn ai giúp đỡ. Không biết có phải định mệnh hay không, mà thời hoàng kim của doo-wop từ ấy cũng lụi tàn. Clinton bắt đầu tìm tòi và lắng nghe những band nhạc xứ Anh như Cream hay the Rolling Stones. Được truyền cảm hứng từ ấy, các chàng P-Funk ném đi những bộ suit để trở thành dân hippies chính hiệu.

Fleetwood Mac

Danh sách kết thúc với một trong những band nhạc vĩ đại nhất mọi thời đại. Fleetwood Mac đã bán được hơn 100 triệu đĩa toàn cầu - trong số đó 40 triệu đến từ album kinh điển Rumors - cũng chính là album đắt khách thứ 8 trong lịch sử thu âm. Họ đã được xướng tên trong the Rock and Roll Hall of Fame, với sự nghiệp đỉnh cao cùng những đĩa đơn không tuổi như “Don’t Stop” hay “Rhiannon”. Song ban nhạc lúc mới chập chững lại có hứng thú với nhạc blues hơn là rock.

Mick Fleetwood từng bộc bạch với tời U.S. News and World Report rằng ông từng rơi vào khủng hoảng tâm lý lúc còn ở trường, người hâm mộ đoán định lý do lớn nhất chính là chứng khó học (learning disability) của ông. Không lâu sau Mick tìm được ánh sáng của đời mình và quyết định bỏ học năm 16 tuổi để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc - tất cả đều được cha mẹ của ông ủng hộ hết mình. Ông rời London với bộ drum kit. The San Diego đưa tin rằng Mick từng chơi cho Bluesbreakers thuở đầu trước khi ông cùng tay bass quyết định tách nhóm để lập nên band nhạc riêng của họ. Fleetwood Mac huyền thoại ra đời từ đó.

Chịu chi phối bởi tay guitar tài năng, phiên bản nguyên thủy của Fleetwood Mac cộp mác những điệu blues dịu ngọt. Vài thành công nhỏ đã đến với họ: đạt được No. 1 ở Anh với bản nhạc “Albatross”, nhưng lại im hơi lặng tiếng tại thị trường Mỹ. Họ tiếp tục lưu diễn ở Chicago cùng những band nhạc blues tiếng tăm, cho đến khi chàng guitarist rời nhóm. Họ “thay máu” cho đội hình với những cái tên mới như Christine McVie, Stevie Nicks, và Lindsey Buckingham. Đây cũng là lúc đánh dấu sự ra đời của Fleetwood Mac phiên bản pop-rock mà người nghe hằng yêu mến.